Thỉnh thoảng có bạn hỏi mình về chuyện học hành hoặc cuộc sống ở Úc, dự định là để cho con qua đây du học hoặc tìm cách cho cả nhà sang đây theo diện đầu tư. Thật ra mình không làm việc ở cơ quan tư vấn di trú hay cập nhật về chính sách nhập cư của chính phủ Úc nên không thể đưa ra thông tin về các chính sách hiện hành. Tuy nhiên hôm nay mình muốn viết bài chia sẻ về cuộc sống ở Úc để mọi người hình dung. Đương nhiên đây là góc nhìn và trải nghiệm cá nhân nên có thể không giống hoặc không đúng với những người có hoàn cảnh khác. Mình chia sẻ những gì mình biết thôi nghen.
Có một hình ảnh mình hay dùng khi giải thích cho các bạn: tấm visa giống một chùm chìa khoá. Công dân Úc cầm nguyên một chùm, gồm Medicare, trường công miễn học phí, trợ cấp trông trẻ và nhiều thứ khác. Người mới đến thường chỉ cầm vài chiếc, và chiếc nào có hay không còn tuỳ loại visa trong tay. Bài này đi qua từng cánh cửa, xem mình có chìa nào, thiếu chìa nào.
À, một chuyện phải nói ngay vì rất nhiều bạn hỏi. Diện đầu tư kiểu Significant Investor Visa (subclass 188) đã đóng hẳn với hồ sơ mới từ ngày 31/7/2024. Visa thay thế là National Innovation Visa (subclass 858), chỉ xét theo lời mời và dành cho người có thành tích xuất sắc được quốc tế công nhận, không còn là “bỏ tiền ra mua” nữa. Nếu ai đó đang chào mời gói đầu tư cũ, bạn hỏi lại thật kỹ nghen.
Cánh cửa đầu tiên: tiền nhà và chợ búa
Mình ở Victoria nên sẽ cung cấp thông tin chủ yếu ở đây, các bang khác có thể có số liệu khác. Tiền thuê nhà ở Melbourne hiện là khoản ngốn nhiều nhất. Báo cáo quý kết thúc tháng 9/2026 của Domain cho biết giá thuê niêm yết trung bình ở 600 AUD mỗi tuần, tức khoảng 2.600 AUD mỗi tháng (hơn 4 tuần á). Mức này không tăng so với quý trước, nhưng so với một năm trước thì nhà tăng 3,4% còn căn hộ tăng 4,3%, và tỷ lệ nhà trống chỉ 1,4%. Như vậy là nhà cho thuê vẫn khó kiếm, mỗi lần có một cái nhà để bảng cho thuê thì người ta xếp hàng để xem và không phải cứ có tiền là thuê được nhà liền đâu.
Về chợ búa, ước tính cho gia đình ba người ở Melbourne khoảng 1.000 đến 1.200 AUD mỗi tháng tiền thực phẩm, cộng thêm 250 đến 350 AUD tiền điện, nước, internet. Nhà mình có 5 đứa thì bạn biết rồi, tủ lạnh nhà mình cứ một lần mở ra và đóng lại sẽ thấy khác khác.
Ăn ngoài ở Úc mắc, nên gia đình mình nấu ở nhà là chính. Mà nấu món Việt ở đây cũng có cái hay, vì ở các khu đông người Việt, rau thơm với nước mắm kiếm không khó. Nếu được ở gần khu chợ người Việt thì quá đã luôn. KFC, Mc Donald, Hungry Jack là những cửa hàng fast-food bình dân và là lựa chọn lâu lâu mới có, và chất lượng dinh dưỡng thì ai cũng biết rồi ha.
Cánh cửa thứ hai: Medicare, chiếc chìa nhiều người tưởng mình có sẵn
Nhiều mẹ ở Việt Nam nghe “Úc có Medicare, y tế miễn phí” là yên tâm. Thực tế Medicare là chiếc chìa dành cho người có visa thường trú (hay còn gọi là thường trú nhân) và một số trường hợp đặc biệt. Người đang giữ visa tạm thời thì phần lớn không có.
Thường trú nhân được đăng ký Medicare. Người đã nộp hồ sơ xin thường trú mà đang giữ visa làm việc, hay có cha mẹ, vợ chồng, con là công dân hay thường trú nhân ở Úc, cũng có thể đăng ký sớm (diện cha mẹ thì không áp dụng). Việt Nam không nằm trong danh sách các nước có thỏa thuận y tế song phương với Úc, nên công dân Việt mới đến không được hưởng điều này.
Con đi du học thì sao? Người giữ visa du học (subclass 500) bắt buộc phải mua bảo hiểm sức khoẻ sinh viên quốc tế OSHC cho cả thời gian học, và bảo hiểm này có gói dành cho cả gia đình đi kèm trên visa. Gói cơ bản gồm khám bác sĩ gia đình, khám chuyên khoa, nằm viện, xét nghiệm, chụp X-quang, xe cấp cứu và một số thuốc kê toa. Nha khoa, vật lý trị liệu, mắt kính phải mua thêm gói mở rộng. Thật ra với người có quốc tịch Úc thì mấy dịch vụ này cũng không được Medicare chi trả mấy. Giá OSHC thì mình không nắm vì chưa tìm hiểu. Tuy nhiên, mọi người nhớ đọc kỹ các điều kiện của OSHC xem thời gian chờ thế nào. Mẹ nào đang có bầu hay định sinh thêm em bé ở Úc, hãy hỏi hãng bảo hiểm bằng văn bản xem thai sản được chi trả ra sao và phải chờ bao lâu.
Có một điều đỡ lo phần nào: đi khám mà ngại tiếng Anh thì có dịch vụ thông dịch miễn phí qua số 131 450, Bộ Y tế Úc có ghi số này trong tờ thông tin OSHC.
Cánh cửa thứ ba: trường của con
Đây là cánh cửa mà cha mẹ nào cũng quan tâm, và cũng là nơi cái chìa dễ bị hiểu nhầm nhất. Ở Úc, học phí trường công phụ thuộc vào tình trạng visa của chính đứa trẻ và của cha mẹ, và mỗi bang mỗi khác.
Tại Victoria, học sinh quốc tế học trường công phải trả học phí 16.000 AUD mỗi năm ở cấp tiểu học, 19.600 AUD ở lớp 7 đến lớp 10, và 22.000 AUD ở lớp 11 và lớp 12, theo bảng của Study Victoria. Con của người có visa thường trú thì khác. Trang của Western Australia ghi rõ mọi trẻ từ lớp mẫu giáo đến lớp 12 giữ visa thường trú đều được đảm bảo có chỗ ở trường công gần nhà. Miễn học phí giảng dạy không có nghĩa là miễn mọi khoản, nhà nào có con đi học đều hiểu. Danh mục chi phí của Study Victoria cho thấy đồng phục 600 đến 1.200 AUD mỗi một đến hai năm, trại hè và hoạt động ngoại khoá 400 đến 1.000 AUD mỗi năm, sách vở và dụng cụ 400 đến 700 AUD mỗi năm, máy tính hay thiết bị điện tử 500 đến 1.500 AUD mỗi hai ba năm. Đây là bảng dành cho học sinh quốc tế, nhưng các khoản đồng phục, trại, sách thì nhà nào có con ở Úc cũng gặp. Nhà mình 5 đứa nên đôi khi cũng tiết kiệm được chi phí này nếu thằng em mặc vừa đồ của thằng anh. Nhưng nói thiệt chỉ mặc được cái áo của anh thôi chứ quần và giày thì khỏi nói, một là rách te tua, hai là tơi tả hehe.
Mẹ nào đi theo đường du học thì cần biết thêm hai con số. Phí xin visa du học (subclass 500) đã tăng từ 2.000 lên 2.500 AUD kể từ ngày 1/7 năm nay, và có mức giảm cho công dân các nước ASEAN (Việt Nam thuộc ASEAN), nên mẹ xem bảng phí chính thức của Bộ Nội vụ để biết mức chính xác. Sinh viên được làm thêm tối đa 48 giờ mỗi hai tuần trong kỳ học, nên đừng tính chuyện con “vừa học vừa làm” nuôi cả gia đình nghen.
Cánh cửa thứ tư: đi lại, đi làm và chuyện trông con
Đi lại ở Úc là chuyện khiến nhiều người quen đi xe máy ở Việt Nam bỡ ngỡ nhất. Tàu điện và tram ở Melbourne có dùng được, nhưng ở khu ngoại ô mà nhà có trẻ nhỏ thì hầu như nhà nào cũng cần xe hơi. Đây là kinh nghiệm của riêng mình và bạn bè quanh mình, mình không có số liệu để dẫn. Về vé công cộng thì mỗi ngày của thẻ myki giá đầy đủ tăng từ 11 lên 11,40 AUD từ đầu năm 2026, cuối tuần là 8 AUD.
Về bằng lái thì VicRoads cho phép dùng bằng lái nước ngoài tối đa 6 tháng kể từ ngày bạn bắt đầu sống ở Victoria. Nếu bằng của nước mẹ không nằm trong danh sách được công nhận, mẹ phải thi bài lý thuyết lái xe (Learner Permit Test), bài nhận biết nguy hiểm (Hazard Perception Test) và bài thi lái xe thật (Drive Test), bài cuối bắt buộc phải thi trực tiếp. Mình chưa kiểm tra được bằng Việt Nam có nằm trong nhóm được công nhận hay không.
Về chuyện làm việc, từ 1/7/2026 lương tối thiểu toàn quốc ở Úc là 26,44 AUD mỗi giờ, tương đương 1.004,90 AUD mỗi tuần với tuần làm 38 giờ, theo trang của Study Australia. Lương tối thiểu theo award (quy chế) cũng tăng 4,75%. Người có visa du học chỉ được làm tối đa 48 giờ mỗi hai tuần khi đang trong kỳ học, nên thu nhập của gia đình phải dựa vào người có quyền làm việc đầy đủ hoặc vào tiết kiệm của gia đình.
Cuối cùng là chuyện trông con. Chi phí gửi trẻ ở Melbourne ước tính 1.200 đến 1.800 AUD mỗi tháng cho chỗ chất lượng tốt. Trợ cấp gửi trẻ của chính phủ (Child Care Subsidy) có quy định về nơi cư trú, trang Services Australia yêu cầu mẹ hoặc người hôn phối phải đang sống ở Úc và đáp ứng điều kiện về tư cách cư trú. Bạn nào có câu hỏi cụ thể về việc này thì mình sẽ tìm hiểu giùm cho nghen.
Cánh cửa thứ năm: tiếng Anh, lối sống và chuyện cộng đồng
Tiếng Anh là chiếc chìa mà thiếu nó thì các cánh cửa kia mở ra cũng khó dùng. Đi khám bệnh, nói chuyện với cô giáo, đọc thư của trường hay thư của nhà cung cấp điện nước, việc nào cũng cần. Tin vui là Úc có chương trình Adult Migrant English Program (AMEP), cho 510 giờ học tiếng Anh miễn phí cho người có visa thường trú hoặc một số loại visa tạm thời như visa vợ chồng, và ai học trực tiếp thì có chỗ trông trẻ chưa đến tuổi đi học miễn phí.
Cộng đồng người Việt là một câu chuyện hai mặt. Ở những khu có đông người Việt, bạn có thể mua được đồ quê, gặp bác sĩ nói tiếng Việt, có bạn để chia sẻ. Nhưng chính sự dễ chịu đó dễ khiến mẹ ngại bước ra nói tiếng Anh, còn thông tin truyền miệng trong nhóm thì có cái đúng, có cái đã cũ từ mấy năm trước. Chính sách visa, học phí, Medicare đều đổi liên tục, nên đừng tin vào một lời kể “chị hàng xóm bảo thế”. Mình muốn nói điều này rõ chút: ngay cả khi sống cạnh nhiều người Việt, nhưng câu ‘chọn bạn mà chơi’ vẫn đúng nghen. Bạn vẫn có thể cô đơn, vẫn có thể bị định kiến, và vẫn thấy mình lạc lõng giữa người cùng tiếng nói.
Còn nếu nhà bạn ở một khu ít người Việt, mình thấy bạn sẽ phải tự tìm thêm cộng đồng: nhóm mẹ ở trường của con, lớp chơi cho trẻ nhỏ ở thư viện, hội nhóm theo sở thích. Có lúc bạn sẽ thấy chán nản, nhưng những nơi này giúp bạn quan sát đa chiều cách mà những người khác nuôi dạy con.
Một năm tốn hết bao nhiêu tiền
Kịch bản 1: một bé đi du học một mình, lớp 11 hoặc 12, trường công, ở homestay
Học phí, homestay, OSHC và các phí một lần lấy từ bảng của từng bang. Phí xin visa sinh viên là 2.500 AUD (có thể thấp hơn cho người Việt vì Việt Nam thuộc ASEAN). (Bé dưới 18 tuổi thì không được thuê nhà riêng mà phải ở homestay)
Mình lấy đỡ số liệu của người quen mình, có con học trung học nha.
Học phí: $22.000
Homestay: $18.000
Bảo hiểm OSHS: $675
Visa (đóng 1 lần): $2.500
Chi phí hành chính (đóng 1 lần, nhiều khoản): $900
Chi phí khác ở trường (đồng phục, sách vở, sinh hoạt ngoại khóa): $3000
Chi tiêu cá nhân: Khoảng $400/tháng (là mình tính trung bình $100/tuần á) x 12
TỔNG CỘNG: $51.875 cho năm đầu tiên (từ năm thứ 2, trừ ra phí visa, rồi tùy chỉnh theo giá cả sinh hoạt)
Kịch bản 2: cả nhà 2 vợ chồng và 4 con dưới 18 tuổi, sống ở Melbourne hoặc các vùng lân cận thuộc Victoria
Mình chọn Melbourne vì đó là nơi mình có số liệu nhiều nhất. Có hai trường hợp, tuỳ visa. Trường hợp A là nhà có visa thường trú, con học trường công không đóng học phí giảng dạy và có Medicare. Trường hợp B là nhà giữ visa tạm thời và con phải đóng học phí như học sinh quốc tế, đồng thời phải mua OSHC gia đình. Mình giả định bốn bé gồm hai bé tiểu học, một bé lớp 7 đến 10 và một bé lớp 11 hoặc 12.
(Lưu ý cho phần myki: : từ 1/6/2026 đến 1/1/2027, Victoria giảm nửa giá cho mọi người, vé ngày đầy đủ còn 5,70 AUD thay vì 11,40.)
Lương tối thiểu toàn quốc từ 1/7/2026 là 1.004,90 AUD mỗi tuần cho tuần làm 38 giờ, tức khoảng 52.255 AUD/năm (trước thuế) cho một người làm toàn thời gian. Hai vợ chồng cùng làm toàn thời gian ở mức lương tối thiểu được khoảng 104.500 AUD/năm trước thuế, mình chưa tính thuế nên con số thực nhận thấp hơn. Chỉ cần so con số đó với cận dưới 71.000 AUD của trường hợp A là thấy gia đình sáu người không thể sống thoải mái nếu cả hai ở mức lương tối thiểu, và trường hợp B gần như cần thu nhập cao hơn nhiều hoặc tiền tiết kiệm lớn. Nhớ là mình chưa tính chi phí xăng xe đó nha, mà ở nhiều khu ngoại ô nhà có bốn bé thì chuyện có xe hơi gần như là bắt buộc.
Nhìn lại chùm chìa khoá
Nếu bạn hỏi mình nên làm gì tiếp theo, mình sẽ gợi ý bạn ngồi xuống viết ra bốn câu hỏi. Visa bạn đang nhắm tới trao cho bạn và gia đình những chiếc chìa nào? Mỗi tháng nhà mình cần bao nhiêu để sống ở một khu cụ thể (hỏi khu đó, đừng hỏi con số trung bình)? Nếu không có thu nhập từ Việt Nam thì gia đình còn chống đỡ được bao lâu? Và bạn có sẵn sàng học tiếng Anh, chấp nhận những năm đầu nghe mà chưa hiểu hết hay không?
Đó là mình tính chi phí khi bạn đã được hợp pháp hóa khi qua Úc nghen, còn các chi phí làm sao để được qua Úc thì chỉ có bạn là nắm rõ nhất.
Miễn trừ trách nhiệm
Bài viết là chia sẻ từ góc nhìn một người mẹ sống ở Úc, tổng hợp số liệu từ các nguồn công khai tính đến tháng 10/2026. Bài không phải tư vấn di trú, tư vấn pháp lý hay tư vấn tài chính, và không thay thế ý kiến của đại diện di trú đã đăng ký, luật sư hay bác sĩ. Và đương nhiên, càng không phải là nguồn tham khảo cuối cùng hay chính thức gì cả.
Bạn tham khảo các nguồn dưới đây nghen:
1. Bộ Nội vụ Úc: Diện Significant Investor (subclass 188)
2. Bộ Nội vụ Úc: National Innovation Visa (subclass 858)
3. Domain: Báo cáo giá thuê nhà quý 9/2026
4. Services Australia: Đăng ký Medicare dành cho thường trú nhân
5. Services Australia: Các thỏa thuận y tế song phương (Reciprocal Health Care Agreements)
6. Bộ Y tế Úc: Tờ thông tin về bảo hiểm sức khoẻ sinh viên quốc tế OSHC
7. Allianz Care: Bảo hiểm OSHC
9. Study Victoria: Học phí và chi phí của học sinh quốc tế tại trường công Victoria
10. Bộ Giáo dục Tây Úc: Quy trình ghi danh vào trường công
11. Bộ Nội vụ Úc: Phí xin visa
12. Vietnam News: Úc giữ mức phí visa ưu đãi cho công dân ASEAN và Việt Nam
13. Study Australia: Quyền đi làm của du học sinh
14. Study Australia: Mức lương tối thiểu từ 1/7/2026
15. Fair Work Ombudsman: Lương tối thiểu tăng từ 1/7/2026
16. Bộ Giao thông Victoria: Giá vé giao thông công cộng
17. VicRoads: Đổi bằng lái nước ngoài sang bằng Victoria
18. Services Australia: Điều kiện cư trú để nhận trợ cấp gửi trẻ (Child Care Subsidy)
19. Bộ Nội vụ Úc: Chương trình học tiếng Anh cho người nhập cư (AMEP)





