Góc nhìn IBCLC, cập nhật bằng chứng khoa học đến 2026
Bài viết do một Chuyên gia Tư vấn Sữa mẹ Quốc tế (IBCLC) tổng hợp. Mình không được cấp phép kê toa thuốc, nên bài này không thay thế lời khuyên của Bác sĩ/IBCLC hay Tư vấn viên Sữa mẹ trực tiếp khám cho mẹ và bé. Với bất kỳ tình trạng sức khỏe nào nhắc tới trong bài, mẹ nhớ hỏi thêm bác sĩ chuyên khoa gần mình nha.
Bạn đã từng nghe câu “98% các mẹ đều đủ sữa cho con” và cảm thấy mình chưa đủ tốt, mình quá tệ không? Bạn đã tin tưởng vào khả năng làm mẹ của mình, nhưng thực tế như một ly nước lạnh hắt vào mặt: bạn đã làm đủ cách, làm theo đủ mẹo nhưng mọi thứ vẫn diễn ra không như ý. Bạn biết không, đa số các ca “con không chịu bú mẹ” hay “mẹ tự nhiên mất sữa” mà mình hay gặp trong các group nuôi con, thật ra là do khớp ngậm chưa đúng, cữ bú còn thưa, hoặc mẹ chưa được hỗ trợ phù hợp. Đây đều là những chuyện hoàn toàn có thể xử lý được. Nhưng cũng có một nhóm các trường hợp là ngoại lệ thật sự: cơ thể mẹ hoặc bé có lý do sinh học rõ ràng khiến việc bú mẹ hoàn toàn không làm được, hoặc chỉ được bú mẹ một ít. Bài này tổng hợp lại những trường hợp trong nhóm này, kèm theo các y văn có thể tra cứu được để giúp các tư vấn viên sữa mẹ và các gia đình cần hỗ trợ có bức tranh đa chiều hơn để đối chiếu với hoàn cảnh của mình.
I. KHI CHÍNH BÉ KHÔNG BÚ ĐƯỢC SỮA MẸ (RẤT HIẾM GẶP)
Đây là các bệnh chuyển hóa bẩm sinh, nghĩa là cơ thể bé thiếu một loại men (enzyme) cần thiết để tiêu hóa một chất nào đó có trong sữa. Các bệnh này được phát hiện ngay từ lúc mới sinh, qua xét nghiệm lấy máu gót chân (sàng lọc sơ sinh).
1. Galactosemia: thật ra có tới 4 dạng khác nhau, không phải một
Đây là chỗ nhiều bài viết hay gộp chung lại, nhưng thực tế galactosemia là cả một nhóm bệnh, mức độ nặng nhẹ rất khác nhau:
Dạng nặng nhất (Type I, cổ điển): bé hoàn toàn không tiêu hóa được galactose (một loại đường có trong sữa mẹ và cả sữa công thức thông thường), nên bắt buộc phải ngừng sữa mẹ, chuyển sang sữa công thức đặc biệt không có galactose (không phải sữa công thức thông thường) ngay sau sinh. Dấu hiệu: vàng da lâu ngày, nôn ói, gan to, nhiễm trùng nặng sau vài ngày bú. Tỉ lệ các bé mắc dạng này là khoảng 1/30.000-60.000 trẻ trên thế giới.
Dạng Duarte: cùng nằm trên gen gây bệnh Type I nhưng đột biến nhẹ hơn nhiều. Đây là dạng phổ biến nhất, gấp hơn 10 lần dạng cổ điển (khoảng 1/4.000 trẻ tại Mỹ), nên phần lớn kết quả sàng lọc “dương tính galactosemia” thật ra rơi vào nhóm này. Tin vui: một nghiên cứu lớn năm 2019 theo dõi 350 trẻ (206 bé mắc dạng Duarte và 144 bé không mắc) không thấy bé nào bị ảnh hưởng phát triển vì bú sữa có đường lactose lúc nhỏ. Vì vậy hiện nay phần lớn bác sĩ chuyển hóa không còn yêu cầu cai sữa mẹ với dạng này nữa.
Type II (thiếu men galactokinase): hiếm hơn, nhẹ hơn thể cổ điển nhiều. Phức tạp chính là dễ bị đục thủy tinh thể sớm, nhưng nếu phát hiện và điều chỉnh chế độ ăn kịp thời thì sẽ phòng ngừa được hoàn toàn.
Type III (thiếu men epimerase): có 2 mức. Thể toàn thân thì nặng như dạng cổ điển, cũng phải ngừng bú mẹ. Nhưng thể nhẹ hơn (phổ biến hơn nhiều) thường không có triệu chứng gì, không cần kiêng gì cả.
2. Phenylketonuria (PKU)
PKU là một bệnh di truyền hiếm gặp khiến cơ thể bé không thể xử lý một loại chất đạm (protein) có tên là phenylalanine. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, chất này sẽ tích tụ trong não và gây tổn thương thần kinh, chậm phát triển trí tuệ. Nhiều người nghĩ bé PKU là “cấm bú mẹ tuyệt đối”, nhưng không đúng đâu. Bé PKU vẫn bú mẹ được, chỉ cần bác sĩ theo dõi sát nồng độ phenylalanine trong máu và bổ sung thêm một phần sữa công thức đặc biệt khi cần. Tỷ lệ mắc bệnh này khác nhau rất nhiều tùy vùng, có nơi khá cao như một số vùng châu Âu và Trung Đông, có nơi cực hiếm như Đông Á, nên các con số hay thấy chỉ là mức tham khảo chung, không áp y nguyên cho Việt Nam được.
3. Thiếu men G6PD
Đây là tình trạng phổ biến hơn nhiều ở Việt Nam và Đông Nam Á so với hai bệnh trên, và bé trai gặp nhiều hơn bé gái. Thiếu men G6PD là một bệnh di truyền khiến hồng cầu của bé dễ bị vỡ khi gặp một số tác nhân nhất định, như một số thuốc, thực phẩm, hoặc nhiễm trùng. Khi hồng cầu bị vỡ, bé có thể bị vàng da, thiếu máu, và trong trường hợp nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng. Tin mừng là bé thiếu men G6PD vẫn bú mẹ hoàn toàn bình thường. Mẹ chỉ cần tránh để bé (và bản thân mẹ, nếu đang cho con bú) tiếp xúc với một số thứ có thể gây tán huyết, như đậu tằm, băng phiến (long não), vài loại kháng sinh và thuốc hạ sốt nhất định. Bác sĩ nhi sẽ đưa danh sách cụ thể ngay khi bé được chẩn đoán.
4. Các bệnh cực hiếm khác
Cùng nhóm “cực hiếm” này còn có MSUD (Maple Syrup Urine Disease, rối loạn chuyển hóa một số acid amin, khoảng 1/185.000 trẻ), fructosemia, tyrosinemia type 1, và rối loạn chu trình urê. Tất cả cần chế độ ăn đặc biệt ngay từ sau sinh.
II. KHI MẸ THỰC SỰ KHÔNG ĐỦ SỮA HOẶC KHÔNG THỂ CÓ SỮA
A. Do cấu trúc giải phẫu vú
Có một tình trạng gọi là thiểu sản mô tuyến vú (IGT), nghĩa là mô tuyến sữa trong ngực không phát triển đủ trong thai kỳ để tạo đủ sữa. Tỉ lệ các mẹ gặp tình trạng IGT rơi vào khoảng 1 - 5%. Điều quan trọng là cái này không liên quan gì đến size ngực to hay nhỏ. Có mẹ ngực to vẫn bị IGT, có mẹ ngực nhỏ vẫn đủ sữa bình thường. IGT có một số dấu hiệu như: ngực có dáng dài hẹp như “cái ống”, hai bên ngực cách xa nhau bất thường, ngực gần như không lớn thêm chút nào suốt thai kỳ, có rạn da nhưng ngực lại không to lên. Một nghiên cứu gần đây trên 460 mẹ tại Úc cho thấy yếu tố liên quan nhiều nhất đến việc thiếu sữa chính là “ngực ít lớn lên khi mang thai”. Nhưng đây mới chỉ là một nghiên cứu, cần thêm dữ liệu ở nhiều nơi khác mới chắc chắn được cho bối cảnh Việt Nam.
Mẹ bị IGT vẫn có thể cho bú một phần, nhiều mẹ cần bổ sung thêm sữa hiến tặng hoặc sữa công thức, và có một phần sữa mẹ vẫn tốt hơn là không có gì.
Phẫu thuật ngực cũng có thể khiến mẹ không đủ hoặc không thể có sữa cho con bú: phẫu thuật thu nhỏ ngực dễ làm tổn thương ống dẫn sữa nên ảnh hưởng nhiều nhất; nâng ngực thường ít ảnh hưởng hơn nếu túi ngực đặt dưới cơ; còn phẫu thuật cắt bỏ mô vú (thường gặp ở người chuyển giới nam) thì hầu như không còn khả năng cho bú hoàn toàn.
B. Do nội tiết
Vài tình trạng nội tiết có thể ảnh hưởng đến việc tạo sữa:
• Suy tuyến yên: tuyến yên giống như “nhà máy sản xuất” hai hormone quan trọng cho việc cho bú, gồm prolactin (kích thích tạo sữa) và oxytocin (kích thích sữa chảy ra). Khi tuyến yên suy, cả hai đều thiếu.
• Hội chứng đa nang buồng trứng (PCOS): có thể làm ngực ít phát triển hơn trong thai kỳ và giảm hiệu quả của prolactin. Nhưng đây vẫn là mảng đang được nghiên cứu thêm, chưa phải điều chắc chắn như PKU hay G6PD.
• Suy giáp: hormone tuyến giáp rất quan trọng cho việc tạo sữa, nên mẹ suy giáp cần điều trị đầy đủ song song với việc cho bú.
• Tiểu đường thai kỳ (GDM): cũng là một yếu tố có thể làm giảm sữa hoặc chậm tiết sữa, có thể do đề kháng insulin cản trở hoạt động của prolactin (phần này chính mình cũng trải qua khi sinh bé thứ năm).
III. MẸ CHUYỂN GIỚI VÀ CHA MẸ KHÔNG MANG THAI: VẪN CÓ THỂ BÚ MẸ, NHƯNG GẶP NHIỀU KHÓ KHĂN VÀ CẦN HỖ TRỢ
“Mẹ chuyển giới nữ” là người khi sinh ra được xác định là nam, nhưng bản dạng giới của họ là nữ. Nhiều người trong số này đã hoặc đang dùng hormone nữ hóa (estrogen, progesterone) như một phần của quá trình chuyển giới, có hoặc không kèm phẫu thuật.
Sở dĩ ngực của nam giới không phát triển mô tuyến sữa vì thiếu các hormone nữ (estrogen, progesterone) trong tuổi dậy thì. Khi một người dùng hormone nữ đủ lâu, mô tuyến vú có thể phát triển tương tự như ở nữ giới. Đây cũng là lý do nhiều mẹ chuyển giới nữ vẫn có ngực phát triển từ trước. Tương tự, nhiều người là nữ chuyển giới thành nam sẽ mọc râu, tóc…và có những đặc tính của nam giới vì dùng hormone nam.
Hormone nữ giống như việc xây sẵn một nhà máy (mô tuyến vú), nhưng nhà máy đó chưa vận hành vì chưa có “đơn hàng”, tức là chưa từng trải qua thai kỳ, giai đoạn cơ thể tự nhiên ra lệnh cho tuyến vú bắt đầu tạo sữa. Phác đồ kích phát sữa (thêm hormone theo trình tự mô phỏng thai kỳ, thêm thuốc kích prolactin là domperidone, và hút sữa đều đặn nhiều lần mỗi ngày) chính là cách tạo “đơn hàng giả” để nhà máy đó hoạt động.
Ca báo cáo nổi tiếng nhất (năm 2018) ghi nhận một mẹ chuyển giới nữ đã có thể cho con bú mẹ hoàn toàn trong 6 tuần đầu, đạt đỉnh khoảng 237mL sữa/ngày, sau đó chuyển sang bú kèm sữa công thức. Nhưng các ca khác cho kết quả rất khác nhau, có ca chỉ đạt khoảng 30mL/ngày, cho thấy lượng sữa đạt được tùy từng người rất nhiều. So với những trường hợp sinh đẻ tự nhiên thì các mẹ chuyển giới thường có ít sữa hơn, nên phần lớn vẫn cần bổ sung thêm sữa hiến tặng hoặc sữa công thức. Ở trên mình nhắc đến từ “đơn hàng giả” nên ‘hàng’ chỉ sản xuất đủ ban đầu, sau đó ‘giám đốc’ nhà máy (cơ thể) phát hiện nên chỉ thị cho các quản lý giảm hoặc ngưng sản xuất để tránh ‘phá sản’ cho công ty.
Mẹ chuyển giới nam (khi sinh ra được xác định là nữ nhưng bản dạng giới là nam): nếu đã phẫu thuật cắt bỏ mô vú thì hầu như không thể tiết sữa. Nếu chưa phẫu thuật, một số vẫn có sữa, nhưng có thể gặp những trở ngại khác và cần hỗ trợ chuyên môn.
Mẹ không mang thai nói chung (kể cả mẹ nhận con nuôi, mẹ nhờ mang thai hộ): một nghiên cứu tại Iran trên 117 người theo phác đồ kích phát sữa chuẩn cho thấy chỉ 14,5% (17/117) duy trì được việc bú mẹ từ 6 tháng trở lên, số còn lại dừng sớm hơn. Đáng chú ý, trong nhóm duy trì được từ 6 tháng, tỷ lệ đạt bú mẹ hoàn toàn (tính đến ngày thứ 120) cao hơn hẳn nhóm dừng sớm: 70,6% so với 24%. Đây là tương quan quan sát được trong một nghiên cứu, chưa rõ chiều nhân quả, nhưng cho thấy việc hỗ trợ duy trì bú lâu dài có thể là yếu tố đáng chú ý. Vì vậy, ai đang cân nhắc con đường này nên được tư vấn ngay từ đầu, tốt nhất có một IBCLC theo sát suốt quá trình.
IV. NHỮNG THUỐC VÀ BỆNH CẦN TẠM NGƯNG HOẶC KHÔNG NÊN CHO BÚ
• Đang hóa trị ung thư: phần lớn thuốc hóa trị qua được sữa mẹ và có thể gây hại cho bé, nên không cho bú trong thời gian điều trị.
• Thuốc phóng xạ (chụp chẩn đoán hình ảnh): thời gian cần ngưng bú (tạm thời) tùy vào loại thuốc và liều dùng. Có khi chỉ vài giờ, có khi cần vài tuần, đặc biệt với i-ốt phóng xạ liều điều trị. Việc này cần có sự tư vấn của bác sĩ theo từng trường hợp.
• Ma túy (như cocaine, heroin, ma túy đá): tuyệt đối không cho bú.
• Thuốc điều trị lao: Các thuốc lao hàng đầu (isoniazid, rifampicin, pyrazinamide, ethambutol) được WHO xác nhận vẫn cho bú bình thường được. Chỉ vài thuốc hàng hai như streptomycin, kanamycin cần bác sĩ theo dõi kỹ hơn một chút.
V. MẸ NHIỄM HIV: HƯỚNG DẪN VỪA MỚI THAY ĐỔI
Tại Việt Nam, khoảng 0,3% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (15-49 tuổi) nhiễm HIV (theo UNAIDS 2024). Trước đây, khuyến cáo toàn cầu dành cho bệnh nhân HIV là tuyệt đối không được cho con bú. Nhưng từ khi có thuốc ARV hiệu quả, các hướng dẫn quốc tế đã thay đổi: mẹ điều trị ARV đều đặn, tải lượng virus không phát hiện được, có thể được tư vấn lựa chọn cho con bú, với nguy cơ lây qua sữa mẹ giảm đáng kể nhưng không về 0%, mức độ cụ thể còn tùy thời gian bú và mức tuân thủ điều trị.
Theo Hướng dẫn kỹ thuật dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con (QĐ 678/QĐ-BYT 2025), phụ nữ nhiễm HIV cần được tư vấn đầy đủ trước sinh và sau sinh về các lựa chọn nuôi con: sữa mẹ, sữa mẹ thanh trùng (ngân hàng sữa), hoặc sữa công thức. Nếu mẹ chọn cho con bú thì cần được theo dõi, hỗ trợ tuân thủ ARV và tái khám định kỳ, và tạm ngừng bú khi có dấu hiệu tải lượng virus tăng cao hoặc tổn thương vú.
VI. MẸ MẮC LAO CHƯA ĐIỀU TRỊ
Theo báo cáo của WHO năm 2023, Việt Nam hiện xếp thứ 11 trong số 30 nước có gánh nặng lao cao nhất thế giới, với khoảng 172.000 ca mới mỗi năm. Đây là kết quả đã cải thiện so với vị trí 16 hồi năm 2018, nhưng vẫn còn khá nặng.
Sữa mẹ không chứa vi khuẩn lao, nhưng vi khuẩn có thể lây cho bé qua tiếp xúc gần khi ho hay nói chuyện. Vì vậy mẹ mắc lao chưa điều trị nên tạm thời không bú trực tiếp hoặc ở gần bé, cho tới khi hết khả năng lây. Thường là sau khoảng 2 tuần điều trị hiệu quả và xét nghiệm đờm chuyển âm tính, thời gian cụ thể tùy từng người, bác sĩ sẽ xác nhận. Trong lúc này mẹ vẫn có thể hút sữa để người khác cho bé bú, vì vi khuẩn lao không lây qua đường sữa mẹ.
VII. TÓM LẠI: TRỞ NGẠI THẬT SỰ HIẾM ĐẾN MỨC NÀO?
Trên đây là phần tổng kết từ danh sách tham khảo ở cuối bài. Các số liệu trên chưa bao gồm những biến chứng/phức tạp khi chuyển dạ, chẳng hạn như sinh mổ, sinh thường có can thiệp, băng huyết sau sinh, sót nhau, chuyển dạ kéo dài, sang chấn tâm lý khi sinh và những trường hợp khác.
VII. BA ĐIỀU MÌNH MUỐN MẸ NHỚ
1. “Nếu muốn, sẽ có cách”. Đa số các vấn đề về sữa mẹ đều giải quyết được nếu có đúng người hỗ trợ, như IBCLC/tư vấn viên sữa mẹ có đào tạo, bác sĩ, hệ thống y tế cũng như gia đình. Và dù mẹ chỉ có một ít sữa thì vẫn tốt hơn là không có sữa. Cho dù mẹ có không thuộc vào những trường hợp kể trên thì việc mẹ tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp khó khăn không bao giờ cho thấy mẹ là người thất bại.
2. “Không phải lỗi của mẹ”. Có rất nhiều lý do sinh lý thật (IGT, nội tiết, phẫu thuật ngực…) khiến một số mẹ không đủ sữa dù đã làm đúng mọi thứ. Thiếu hỗ trợ kịp thời và thông tin sai lệch trong cộng đồng cũng là nguyên nhân phổ biến không kém.
3. “Quyền tự quyết”. Nuôi con bằng gì là quyền của mỗi người mẹ, dựa trên hoàn cảnh và cơ thể của chính mình. Không ai có quyền phán xét lựa chọn của người khác. Truyền thông về nuôi con sữa mẹ nên nhằm mục đích giáo dục, hỗ trợ và trao quyền cho mẹ và gia đình.
Ngạn ngữ Châu Phi có câu ‘It takes a village to raise a baby’, nghĩa là ‘Cần một ngôi làng để nuôi một đứa trẻ’. Nếu mẹ gặp trở ngại hoặc cảm thấy những mục tiêu nuôi con sữa mẹ của mình không đạt được, hoặc không như ý nguyện thì cả một ‘ngôi làng’ (cộng đồng, xã hội) phải gánh vác. Sữa mẹ là quan trọng, nhưng sự hiện diện của mẹ dành cho con quan trọng hơn tất cả. Mong mẹ vững vàng trên hành trình đầy yêu thương mà cũng nhiều thử thách của mình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Jin, X., Lai, C.T., Perrella, S.L., Gridneva, Z., McEachran, J.L., Hassan, G.M., Taylor, N.L., & Geddes, D.T. (2025). Defining Low Milk Supply: A Data-Driven Diagnostic Framework and Risk Factor Analysis for Breastfeeding Women. Nutrients, 17(22), 3524.
Reisman, T., & Goldstein, Z. (2018). Case Report: Induced Lactation in a Transgender Woman. Transgender Health, 3(1), 24-26.
Ikebukuro, S., Tanaka, M., Kaneko, M., et al. (2024). Induced lactation in a transgender woman: case report. International Breastfeeding Journal, 19, 66.
Sattari et al. (2025). Induced Lactation in Non-gestational Mothers in Iran: Outcomes and Predictors of Breastfeeding Success. Archives of Iranian Medicine, 28(3).
Ngo et al (2022). Molecular Characterization and Genotype-Phenotype Correlation of G6PD Mutations in Five Ethnicities of Northern Vietnam. Anemia, 2022, 2653089.
Panel on Treatment of HIV in Pregnancy and Prevention of Perinatal Transmission (NIH/HHS, Mỹ). Preventing HIV Transmission During Infant Feeding, cập nhật 25/6/2026.
Bệnh viện Phổi Trung ương, dẫn Báo cáo Lao toàn cầu WHO 2023. Việt Nam đứng thứ 11 thế giới về gánh nặng bệnh lao.
Blau, N. et al. Phenylalanine Hydroxylase Deficiency. GeneReviews®, NCBI Bookshelf. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK1504/. Bản phổ thông NORD: https://rarediseases.org/rare-diseases/phenylketonuria/
Maple Syrup Urine Disease. GeneReviews®, NCBI Bookshelf. /. Bản phổ thông NORD: https://rarediseases.org/rare-diseases/maple-syrup-urine-disease/
Galactosemia Foundation. Types of Galactosemia.
Duarte Galactosemia. GeneReviews®, NCBI Bookshelf (trích dẫn nghiên cứu Carlock và cộng sự, 2019, Pediatrics 143(1):e20182516, n=350).
Fridovich-Keil, J.L. & Walter, J.H. Epimerase Deficiency Galactosemia. GeneReviews®, NCBI Bookshelf.
Galactokinase Deficiency. StatPearls, NCBI Bookshelf.





