Lớp sáp/gây ở trẻ sơ sinh có tên tiếng Anh là Vernix Caseosa, hay gọi ngắn gọn lại là Vernix. Vernix là một lớp màng sinh học tự nhiên, được tạo ra và phủ dày dần lên da bé trong ba tháng cuối thai kỳ. Một phần lớp màng này sẽ tan vào nước ối vào khoảng 34 tuần, khi phổi bé bắt đầu tiết chất surfactant vào nước ối (cũng vì vậy mà nước ối đục dần về cuối thai kỳ). Vì lý do này, những bé sinh sớm thường có lớp sáp dày hơn các bé sinh đủ tháng. Riêng các bé sinh quá non (dưới khoảng 28 tuần) thì gần như chưa có lớp sáp này. Lớp sáp một phần do tuyến bã hay còn gọi là tuyến dầu (sebaceous glands) sản xuất, trộn với các tế bào da bong ra. Theo Haubrich, ngoài khoảng 80,5% nước và một số tế bào biểu mô, lớp Vernix còn bao gồm khoảng 9,1% protein và 10,3% lipid (chất béo).
Khi một phần của vernix tan vào nước ối, bé sẽ nuốt một ít vernix. Một số thành phần protein của vernix cũng có trong sữa mẹ. Do đó, việc bé nuốt vào bụng vernix được cho là đóng vai trò như một sự chuẩn bị cho đường ruột của bé, giống như bé được làm quen trước với vài thành phần của sữa mẹ từ khi còn chưa chào đời.
Branched‐chain Fatty Acids (BCFA) hay còn gọi là Axit béo chuỗi nhánh (BCFA) trong vernix, phân su (phân đầu tiên của bé) cũng tìm thấy trong sữa mẹ. Theo Dingess và cộng sự, người lớn nhận BCFA chủ yếu từ sữa, các chế phẩm từ sữa và thịt bò. Còn thai nhi thì được “nạp” BCFA ngay trong bụng mẹ: theo Ran-Ressler và cộng sự, gần cuối thai kỳ, trẻ nuốt tầm 200 – 500 ml nước ối mỗi ngày, chứa khoảng 6 miligram BCFA (cộng dồn khoảng 180 mg trong tháng cuối).
Giống như sữa mẹ, vernix là một loại kem dưỡng da đắt nhất thế giới và không một nhà máy nào có thể sản xuất giống như vậy được, vì những lý do sau (liệt kê một số):
1. Mất 9 tháng mới sản xuất được
2. Tốn nguyên một em bé mới làm ra!
3. Nó hoạt động như lớp màng chống thấm, giúp da bé không bị “ngâm nước” suốt thời gian nằm trong tử cung và giữ ẩm cho da sau khi sinh
4. Nó hoạt động như chất kháng khuẩn để bảo vệ em bé trong và ngoài tử cung (vernix chứa nhiều protein và chất béo có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm; bằng chứng này chủ yếu từ phòng thí nghiệm)
5. Che chắn bảo vệ và bôi trơn cho bé khi đi qua đường sinh
6. Cho phép bé tiếp nhận vi khuẩn có lợi và hạn chế vi khuẩn có hại phát triển quá mức
7. Giữ lớp sáp nghĩa là chưa tắm bé vội, nhờ vậy bé ít bị lạnh (hạ thân nhiệt) và hạ đường huyết hơn. Đây là lý do tại sao nên tuyệt đối KHÔNG tắm cho bé ngay sau khi sinh: WHO (2022a) khuyến cáo hoãn lần tắm đầu tiên của bé đủ tháng, khỏe mạnh ít nhất 24 giờ sau sinh.
8. Mùi của nước ối còn vương trên lớp vernix là mùi quen thuộc mà bé đã ngửi suốt thời gian trong bụng mẹ, vì thế giữ chất này sẽ giúp cho bé bình tĩnh sau khi sinh (trong nghiên cứu của Varendi, bé được ngửi mùi nước ối khóc ít hơn hẳn).
9. Giữ lớp vernix cũng góp phần tăng tỉ lệ cho con bú: nhiều bệnh viện ghi nhận sau khi hoãn tắm bé, tỷ lệ bé bú mẹ hoàn toàn lúc xuất viện tăng lên (dù độ chắc chắn của bằng chứng còn thấp). Một lý do có thể là bé dựa vào mùi nước ối trên tay mình để tìm đến vú mẹ
10. Đóng vai trò như một lớp kem dưỡng
Vì những lý do nói trên, quan niệm cho rằng lớp gây/sáp là môi trường cho khuẩn hại xâm nhập bé là những kiến thức sai lầm và cần nói lại cho đúng. WHO (2022a) cũng nhận định không có bằng chứng nào ủng hộ việc tắm sớm cho bé để phòng lây nhiễm từ mẹ, kể cả khi bé dính phân su.
Với các công dụng tuyệt vời kể trên, khi tiếp da với bé, điều quan trọng là KHÔNG lau bớt để bỏ nó đi, trái lại có thể nhẹ nhàng thoa/xoa vào người/da bé để lớp sáp được thấm thêm vào da bé, để phát huy tối ưu những công dụng tuyệt vời đó. Bé vẫn cần được lau khô kỹ bằng khăn sạch, khô ngay sau sinh (bắt đầu trong vài giây đầu, lau khoảng 30 giây) rồi đặt da tiếp da với mẹ để giữ ấm. Lau khô là để thấm nước ối, còn lớp sáp thì không chà ra (WHO, 2022b).
Sau khi biết về công dụng tuyệt vời của lớp sáp, đã có nhiều công ty dược mỹ phẩm về ngành chăm sóc da cố gắng nghiên cứu tìm ra công thức để sản xuất loại kem dưỡng này để giúp cho làn da được ‘hồi sinh lần hai’. Một trong những sản phẩm có thể kể đến là CREME MASQUE VERNIX của hãng BIOLOGIQUE RECHERCHE (Pháp), một loại kem mô phỏng thành phần của vernix, không chứa vernix thật. Một hũ kem 50 ml có giá niêm yết khoảng 225 USD (trang web của hãng, tháng 9/2026).
Đọc đến đây, bạn có hối tiếc vì trước đây đã lỡ tắm con sớm không? Nếu có cảm giác đó thì bạn cũng giống mình thôi, khi sinh con đầu lòng, nên giờ cũng đừng tự trách mình nhé. Nếu bạn chuẩn bị sinh con, bạn có đành lòng lau chùi lớp kem dưỡng tự nhiên có giá gấp nhiều lần hũ kem vài trăm đô này không?
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
• Singh, G., & Archana, G. (2008). Unraveling the mystery of vernix caseosa [Khám phá bí ẩn về lớp sáp ở trẻ sơ sinh]. Indian Journal of Dermatology, 53(2), 54–60.
• Haubrich, K. A. (2003). Role of vernix caseosa in the neonate: Potential application in the adult population. AACN Clinical Issues, 14(4), 457–464.
• Dingess, K. A. , Valentine, C. J. , Ollberding, N. J. , Davidson, B. S. , Woo, J. G. , Summer, S. , Peng, Y. M. , Guerrero, M. L. , Ruiz‐Palacios, G. M. , Ran‐Ressler, R. R. , McMahon, R. J. , Brenna, J. T. , & Morrow, A. L. (2017). Branched‐chain fatty acid composition of human milk and the impact of maternal diet: The Global Exploration of Human Milk (GEHM) Study. The American Journal of Clinical Nutrition, 105(1), 177–184.
• Hoath, S. B., Pickens, W. L., & Visscher, M. O. (2006). The biology of vernix caseosa. International Journal of Cosmetic Science, 28(5), 319–333.
• Mardmomen, N., & Foy, V. (2026). Delayed newborn bathing: Exploring social media trends, cultural perspectives, and dermatologic implications. Pediatric Dermatology. Bản online trước khi in.
• Mesfin, S., Afework, M., Bikila, D., Tessema, A., & Sento, M. (2022). Distribution of vernix caseosa and associated factors among newborns delivered at Adama Comprehensive Specialized Hospital Medical College, Ethiopia, in 2022: Cross-sectional study. Clinical, Cosmetic and Investigational Dermatology, 15, 2903–2914.
• Narendran, V., Wickett, R. R., Pickens, W. L., & Hoath, S. B. (2000). Interaction between pulmonary surfactant and vernix: A potential mechanism for induction of amniotic fluid turbidity. Pediatric Research, 48(1), 120–124.
• Nishijima, K., Yoneda, M., Hirai, T., Takakuwa, K., & Enomoto, T. (2019). Biology of the vernix caseosa: A review. Journal of Obstetrics and Gynaecology Research, 45(11), 2145–2149.
• Priyadarshi, M., Balachander, B., Gupta, S., & Sankar, M. J. (2022). Timing of first bath in term healthy newborns: A systematic review. Journal of Global Health, 12, 12004.
• Ran-Ressler, R. R., Devapatla, S., Lawrence, P., & Brenna, J. T. (2008). Branched chain fatty acids are constituents of the normal healthy newborn gastrointestinal tract. Pediatric Research, 64(6), 605–609.
• Tollin, M., Bergsson, G., Kai-Larsen, Y., Lengqvist, J., Sjövall, J., Griffiths, W., Skúladóttir, G. V., Haraldsson, A., Jörnvall, H., Gudmundsson, G. H., & Agerberth, B. (2005). Vernix caseosa as a multi-component defence system based on polypeptides, lipids and their interactions. Cellular and Molecular Life Sciences, 62(19–20), 2390–2399.
• Varendi, H., Christensson, K., Porter, R. H., & Winberg, J. (1998). Soothing effect of amniotic fluid smell in newborn infants. Early Human Development, 51(1), 47–55.
• Varendi, H., Porter, R. H., & Winberg, J. (1996). Attractiveness of amniotic fluid odor: Evidence of prenatal olfactory learning? Acta Paediatrica, 85(10), 1223–1227.
• Visscher, M. O., Narendran, V., Pickens, W. L., LaRuffa, A. A., Meinzen-Derr, J., Allen, K., & Hoath, S. B. (2005). Vernix caseosa in neonatal adaptation. Journal of Perinatology, 25(7), 440–446.
• Warren, S., Midodzi, W. K., Allwood Newhook, L. A., Murphy, P., & Twells, L. (2020). Effects of delayed newborn bathing on breastfeeding, hypothermia, and hypoglycemia. Journal of Obstetric, Gynecologic & Neonatal Nursing, 49(2), 181–189.
• World Health Organization. (2022a). WHO recommendations on maternal and newborn care for a positive postnatal experience. World Health Organization. (Khuyến cáo 30: thời điểm tắm lần đầu.)
• World Health Organization Regional Office for the Western Pacific. (2022b). Early essential newborn care: Clinical practice pocket guide (2nd ed.). WHO Regional Office for the Western Pacific. (Tr. 32 và 35: lau khô, không lau bỏ vernix, không tắm trong 24 giờ đầu.)



